Nghệ An ưu tiên phát triển Hợp tác xã kiểu mới

Thứ hai - 06/07/2026 05:02 0
Ngày 3/7, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2948/QĐ-UBND phê duyệt Đề án phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực gắn với chế biến, bảo quản liên kết chuỗi giá trị sản phẩm trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Một trong những giải pháp đưa ra là ưu tiên phát triển HTX kiểu mới và liên kết chặt chẽ giữa nông dân – HTX – doanh nghiệp (mô hình 3 hoặc 4 nhà) thông qua hợp đồng bao tiêu rõ ràng để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung và chuỗi gia trị bền vững.
Phấn đấu đến năm 2045, xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại
Đề án đặt mục tiêu tổng quát là phát triển sản xuất các cây trồng, vật nuôi chủ lực của tỉnh Nghệ An theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn gắn liền với công nghệ chế biến, bảo quản hiện đại, xây dựng thương hiệu mạnh phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Giai đoạn 2026 – 2030 phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chủ lực đạt bình quân 5 - 5,5%/năm. Tỷ trọng đóng góp chiếm từ 80 - 85% tổng giá trị ngành nông, lâm, thủy sản của tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu chiếm 93 - 95% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Xây dựng mới từ 100 - 150 chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm bền vững với sự tham gia của trên 150 - 165 doanh nghiệp và 300 hợp tác xã (HTX). Đảm bảo 100% sản phẩm trong chuỗi được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng.
Tầm nhìn đến năm 2045, Nghệ An hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, đóng vai trò trụ cột cho kinh tế nông thôn. Trong đó, 100% cây trồng, vật nuôi chủ lực sẽ được quy hoạch sản xuất tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp số và tuần hoàn, đạt tiêu chuẩn quốc tế và sở hữu thương hiệu mạnh trên thị trường toàn cầu.
 
Vùng trồng cây dược liệu của HTX dược liệu Phủ Quỳ
Định hướng chi tiết từng loại cây trồng đến năm 2030
Tại quyết định UBND tỉnh đã vạch rõ định hướng chi tiết cho từng loại cây trồng đến năm 2030, nhấn mạnh vào cơ giới hóa, tiêu chuẩn VietGAP/GlobalGAP/hữu cơ và chế biến sâu.
Cụ thể, đối với cây lúa: Ổn định diện tích 163.500 ha/2 vụ (sản lượng 932.000 tấn/năm); tỷ lệ giống chất lượng cao đạt trên 90%. Áp dụng cơ giới hóa đồng bộ và chuyển đổi số trên 20.000 ha. Nâng công suất chế biến lên 700.000 - 800.000 tấn/năm và hình thành từ 3 - 5 trung tâm chế biến, logistics hiện đại.
Cây sắn: Ổn định diện tích 12.000 ha tại vùng trung du, miền núi (sản lượng 312.000 tấn/năm). Duy trì 03 nhà máy hiện có, tập trung nâng cấp công nghệ chế biến sâu (cồn sinh học, tinh bột biến tính).
Cây mía: Mở rộng diện tích lên 25.700 ha (sản lượng 2,2 triệu tấn/năm). Ứng dụng công nghệ cao/VietGAP trên khoảng 10.000 ha. Tối ưu hóa hiệu quả chuỗi tuần hoàn (bã mía làm điện, mật rỉ làm cồn/thức ăn).
Rau củ quả: Phát triển diện tích đạt 45.000 ha (sản lượng 765.000 tấn). Mở rộng 4.500ha ứng dụng công nghệ cao và 25 - 30% diện tích đạt chuẩn Viet GAP/Global GAP/hữu cơ. Phát triển chuỗi cung ứng lạnh và kết hợp mô hình du lịch nông nghiệp, farmstay.
Chè công nghiệp: Phát triển diện tích đạt 12.000 ha (sản lượng 155.000 - 160.000 tấn chè búp tươi/năm). Tập trung vào các vùng chè truyền thống và phát triển chè Shan Tuyết đặc sản miền núi gắn với du lịch sinh thái - văn hóa (Đảo chè Thanh An, Kỳ Sơn). Nâng cấp công nghệ của 55 cơ sở chế biến hiện có nhằm đa dạng hóa sản phẩm cao cấp.
Cây cam: Phát triển diện tích đạt 4.000 ha (sản lượng 57.600 tấn/năm), trọng tâm là các giống đặc sản (Cam Xã Đoài, Cam V2, cam không hạt). Kéo dài thời gian bảo quản bằng công nghệ hiện đại đạt từ 20 - 30 ngày, hướng tới xuất khẩu đạt 5 - 10 triệu USD/năm sang các thị trường các nước: Nhật Bản, EU, Hàn Quốc. Đồng thời duy trì tổ chức Lễ hội Cam Vinh.
Cây dứa: Mở rộng diện tích đạt 13.000 ha (sản lượng 300.000 tấn/năm), chuyển đổi mạnh sang các giống MD2, Cayen và Queen. Mục tiêu 70 - 80% sản lượng dứa được đưa vào chế biến sâu, tận dụng phế phụ phẩm chiết xuất enzyme Bromelain hoặc sản xuất vải, giấy từ lá dứa.
Dược liệu: Mở rộng diện tích đạt 8.000 ha (sản lượng 52.000 tấn/năm) theo mô hình "liên kết 4 nhà". Ứng dụng công nghệ sấy thăng hoa, sấy hồng ngoại, chiết xuất đạt tiêu chuẩn GMP, ISO, HACCP.
Cây gỗ nguyên liệu: Phát triển diện tích đạt 180.000 ha rừng trồng, nâng diện tích rừng gỗ lớn lên 30 - 35% (60.000 ha). Phấn đấu đạt 55.000 - 60.000 ha rừng có chứng chỉ quốc tế FSC/PEFC/VFCS. Tập trung thu hút đầu tư công nghệ hiện đại vào Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao Bắc Trung Bộ.
Đối với lĩnh vực chăn nuôi, chăn nuôi lợn: Phát triển tổng đàn đạt 1,3 triệu con (sản lượng thịt hơi đạt 225.000 tấn/năm). 100% trang trại lớn ứng dụng công nghệ thông minh (IoT, chuồng lạnh, xử lý chất thải biogas). Xây dựng tối thiểu 3 chuỗi sản phẩm thịt lợn đủ điều kiện xuất khẩu.
Chăn nuôi gia cầm: Tổng đàn đạt 56 triệu con (gà chiếm 80 - 85%), sản lượng thịt hơi đạt 130.000 tấn/năm. Đầu tư mới từ 5 - 10 nhà máy chế biến sâu đạt tiêu chuẩn quốc tế để xuất khẩu sang các nước: Nhật Bản, EU, Hàn Quốc.
Chăn nuôi bò thịt: Tổng đàn đạt 555.000 con (sản lượng thịt hơi trên 37.200 tấn/năm). Phấn đấu 40% bò được vỗ béo trước khi giết mổ, thu hút đầu tư các nhà máy giết mổ đạt chuẩn quốc tế HACCP, HALAL phục vụ xuất khẩu.
Chăn nuôi bò sữa: Phát triển quy mô tổng đàn đạt 95.000 con, sản lượng đạt 450.000 tấn sữa/năm. Tiếp tục mở rộng các vùng chăn nuôi tập trung công nghiệp đầu tàu (TH True Milk, Vinamilk tại Nghĩa Lâm, Đông Hiếu) kết hợp phát triển các trang trại vệ tinh và điểm du lịch trải nghiệm sinh thái.
Nuôi tôm: Đạt diện tích 2.250 ha, sản lượng 14.000 tấn/năm (giá trị trên 3.000 tỷ đồng). Mở rộng các vùng nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao (hệ thống RAS/Biofloc, nhà kính) tại các xã ven biển và thí điểm nuôi tôm sinh thái kết hợp rừng ngập mặn.
Nuôi cá: Đạt diện tích 19.550 ha, sản lượng 60.000 tấn/năm. Phát triển mạnh nuôi cá lồng trên các hồ chứa lớn (Bản Vẽ, Vực Mấu, Khe Bố) với các loài cá đặc sản, kết hợp mô hình "Du lịch nông nghiệp thủy sản".
Áp dụng mô hình nông nghiệp 4.0, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và nuôi trồng
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, UBND tỉnh đề ra các nhóm giải pháp trọng tâm. Đó là ưu tiên phát triển HTX kiểu mới làm cầu nối vững chắc giữa người nông dân và doanh nghiệp thông qua hợp đồng bao tiêu sản phẩm rõ ràng. Đẩy mạnh xây dựng và bảo hộ thương hiệu nông sản chủ lực (cam Vinh, gạo chất lượng cao,...) và đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử.
Áp dụng mô hình Nông nghiệp 4.0, ứng dụng cảm biến, IoT, thiết bị bay không người lái (drone) vào canh tác. Số hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, minh bạch thông tin qua mã số vùng trồng, nhật ký điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc QR code, Blockchain.
Triển khai các chính sách ưu đãi đa chiều từ hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn vay, thành lập Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, đến miễn giảm tiền thuê đất và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho các dự án nông nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu.
Tăng cường tập huấn, phổ biến sâu rộng các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ; vận động người dân chủ động, mạnh dạn ứng dụng khoa học công nghệ nhằm cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Nghệ An trên trường quốc tế...

Tác giả bài viết: Văn phòng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập35
  • Hôm nay15,511
  • Tháng hiện tại96,658
  • Tổng lượt truy cập23,801,612
Liên kết website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây