Nông dân Nghệ An nâng chất nông sản bằng cách làm mới

Thứ sáu - 24/04/2026 16:20 0
Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, nhiều nông dân Nghệ An đang chuyển từ tư duy “chữa bệnh cho cây” sang “làm cho cây khỏe”. Việc áp dụng quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) không chỉ giúp giảm chi phí, hạn chế phụ thuộc hóa chất mà còn nâng cao chất lượng nông sản, mở rộng đầu ra và gia tăng giá trị sản xuất.

Những mô hình hiệu quả

bna_4(1).jpg
Mô hình cải kale áp dụng IPHM vào canh tác, đáp ứng nhu cầu chế biến. Ảnh: T.P

Tại HTX Nông nghiệp tổng hợp Quỳnh Bảng (xã Quỳnh Anh), IPHM được triển khai trên nền sản xuất hữu cơ, gắn với liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp. HTX Nông nghiệp tổng hợp Quỳnh Bảng hiện quản lý hơn 400ha sản xuất rau màu, trong đó 25,7ha đã được cấp mã vùng trồng; riêng 10ha được quy hoạch làm vùng sản xuất hữu cơ theo đơn hàng của Công ty Ngư Quỳnh Food. Đây được xem là “vùng lõi” để áp dụng đồng bộ các nguyên tắc IPHM. Thực tế sản xuất cho thấy, mỗi loại rau như cải kale, cần tây, tía tô, rau má… có đặc tính sinh trưởng khác nhau, trong khi doanh nghiệp lại yêu cầu nguyên liệu đồng đều, đảm bảo truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, HTX đã tổ chức lại sản xuất theo hướng khoa học: Phân vùng cây trồng, tăng cường sử dụng phân hữu cơ, vi sinh; lựa chọn giống có khả năng chống chịu tốt; kiểm soát sâu bệnh bằng biện pháp sinh học, bẫy côn trùng và theo dõi ngưỡng gây hại.

Đáng chú ý, việc ghi chép nhật ký sản xuất, ứng dụng công nghệ như tưới tự động, nhà màng… được thực hiện đồng bộ, giúp nâng cao hiệu quả quản lý. Nhờ đó, sâu bệnh giảm rõ rệt, chi phí xử lý được cắt giảm, sản phẩm đạt độ đồng đều cao, đáp ứng yêu cầu chế biến. Ông Hồ Đăng Tâm - Giám đốc HTX Dịch vụ nông nghiệp Quỳnh Bảng cho biết: “Khi áp dụng quản lý sức khỏe cây trồng theo hướng tổng hợp, chúng tôi không chỉ giảm được chi phí đầu vào mà còn nâng cao chất lượng nông sản, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của doanh nghiệp liên kết. Đặc biệt, với mô hình cải kale, việc gắn sản xuất với chế biến sâu đã giúp sản phẩm có đầu ra ổn định, giá trị gia tăng cao hơn”.

bna_phm.jpg
Nhiều vùng chuyên canh rau màu đang áp dụng quản lý sức khỏe cây trồng để đáp ứng nhu cầu thị trường. Ảnh: T.P

HTX Dịch vụ nông nghiệp Quỳnh Minh cũng là điểm sáng trong ứng dụng IPHM gắn với tiêu chuẩn VietGAP. Hiện tại, HTX có 15ha chuyên canh rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, trong đó 3.000m² nhà lưới giúp kiểm soát tốt điều kiện ngoại cảnh. Đồng thời, HTX liên kết với 180 thành viên tổ chức sản xuất trên 30ha theo chuỗi khép kín. Nhờ áp dụng IPHM, mỗi năm HTX duy trì 4-5 vụ sản xuất với khoảng 15 loại rau, củ, quả; sản lượng đạt từ 3.000-4.500 tấn, cung ứng bình quân hơn 90 tấn/tháng cho hệ thống siêu thị. Giá trị sản xuất đạt khoảng 400-450 triệu đồng/ha/năm, cho thấy hiệu quả rõ nét của việc chuyển đổi phương thức canh tác.

Ở quy mô hộ gia đình, mô hình trồng ổi lê Đài Loan của các hộ ở xã Nghĩa Mai cũng cho thấy tính linh hoạt của IPHM. Người sản xuất chú trọng quản lý dinh dưỡng đất, nguồn nước, sử dụng phân hữu cơ để tăng sức đề kháng tự nhiên cho cây; kết hợp bẫy sinh học và chế phẩm sinh học để kiểm soát sâu bệnh.

Dùng bẫy sinh học để kiểm soát sâu bệnh trên cây ăn quả của nông dân Nghĩa Mai. Ảnh: T.P
Dùng bẫy sinh học để kiểm soát sâu bệnh trên cây ăn quả của nông dân xã Nghĩa Mai. Ảnh: T.P

Ông Phan Thanh Nghị, Tổ trưởng Tổ hội Nông dân nghề nghiệp trồng cây ăn quả xã Nghĩa Mai cho biết: “Việc áp dụng IPHM giúp bà con thay đổi cách làm từ phụ thuộc vào thuốc hóa học sang chủ động chăm sóc, nuôi dưỡng sức khỏe cây trồng ngay từ đầu. Khi đất tốt, cây khỏe thì sâu bệnh giảm, chi phí đầu vào cũng giảm theo. Quan trọng hơn là sản phẩm làm ra an toàn, dễ tiêu thụ, giá bán ổn định hơn. Thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục vận động các hộ mở rộng diện tích, liên kết sản xuất để nâng cao hiệu quả kinh tế”.

Trong sản xuất lúa, mô hình IPHM tại xã Giai Lạc triển khai trên quy mô 10ha vào năm 2025 đã mang lại kết quả khả quan. Việc giảm lượng giống, phân bón hóa học, tăng sử dụng phân hữu cơ và quản lý nước hợp lý đã giúp năng suất tăng 1,81 tạ/ha, lãi thuần cao hơn khoảng 2 triệu đồng/ha so với phương thức canh tác truyền thống. Đồng thời, tỷ lệ sâu bệnh giảm, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật được hạn chế, góp phần bảo vệ hệ sinh thái đồng ruộng.

Từ áp lực thị trường đến chuyển đổi sản xuất theo IPHM

bna_lphm03405.jpg
Vùng trồng chè Gay, xã Yên Xuân đang chuyển hướng sang canh tác hữu cơ, phục vụ chế biến sâu. Ảnh: T.P

Áp lực từ thị trường đang bộc lộ rõ ở nhiều ngành hàng nông sản, trong đó cây chè là ví dụ điển hình tại các huyện miền núi Nghệ An. Toàn tỉnh hiện có khoảng 8.800ha chè, năng suất bình quân đạt 145 tạ/ha, song giá trị lại ở mức thấp. Phần lớn sản phẩm vẫn xuất khẩu sang các thị trường dễ tính như Trung Quốc, Pakistan, Trung Đông… với giá chỉ 1.200-1.400 USD/tấn.

Giá chè búp tươi vì thế bấp bênh, dao động từ 2.000-6.000 đồng/kg; thời điểm đầu năm 2026 tại huyện Thanh Chương (cũ) chỉ khoảng 3.900 đồng/kg. Nguyên nhân không nằm ở sản lượng mà ở chất lượng và cách tổ chức sản xuất: Sản phẩm chưa đồng đều, khó kiểm soát an toàn thực phẩm, thiếu truy xuất nguồn gốc, công nghệ chế biến còn lạc hậu, chủ yếu xuất khẩu thô.

Từ câu chuyện cây chè có thể thấy, những hạn chế này không phải là cá biệt mà phản ánh các “điểm nghẽn” chung của sản xuất nông nghiệp hiện nay. Đó là quy mô sản xuất còn manh mún, thiếu vùng nguyên liệu tập trung; chi phí đầu tư ban đầu cho chuyển đổi sản xuất an toàn còn cao; trình độ kỹ thuật của người sản xuất chưa đồng đều, đặc biệt trong bối cảnh lao động nông thôn già hóa. Bên cạnh đó, việc tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị còn lỏng lẻo, liên kết giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp chưa bền vững, khiến sản phẩm khó đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường. Biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai cũng làm gia tăng áp lực, buộc sản xuất nông nghiệp phải thay đổi theo hướng thích ứng và bền vững hơn.

bna_rau7713931958170_02308366b2684c9974d58da6683952a8.jpg
Nhu cầu thị trường ngày càng khắt khe, do đó, nông dân phải chuyển hướng canh tác phù hợp. Ảnh: T.P

Trong bối cảnh đó, việc áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến như IPM, ICM và đặc biệt là IPHM quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp trở thành yêu cầu tất yếu. Không chỉ giúp nâng cao sức chống chịu của cây trồng, IPHM còn góp phần chuẩn hóa quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng, giảm chi phí đầu vào và đáp ứng các tiêu chuẩn như VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ…

Ở góc độ quản lý, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch thúc đẩy ứng dụng IPHM trên cây trồng chủ lực giai đoạn 2024-2030, với mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, trên 90% diện tích cây trồng chủ lực áp dụng IPHM; giảm 30% lượng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học; trên 80% số xã có đội ngũ nông dân nòng cốt am hiểu và triển khai hiệu quả mô hình. Để đạt mục tiêu này, tỉnh đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ hoàn thiện cơ chế, chính sách, thu hút doanh nghiệp đầu tư đến đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, gắn với chuỗi giá trị.

bna_3(1).jpg
Nhiều mô hình về sản xuất và sử dụng phân hữu cơ đang được Hội Nông dân tỉnh chỉ đạo, nhân rộng. Ảnh: CSCC

Trong xu thế thị trường ngày càng đề cao nông sản an toàn, minh bạch và bền vững, IPHM không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là nền tảng để tổ chức lại sản xuất. Từ bài học của cây chè, có thể thấy rõ: Chỉ khi tháo gỡ được các “nút thắt” từ cơ sở, gắn sản xuất với thị trường và chuỗi giá trị, nông nghiệp mới có thể chuyển từ “sản lượng” sang “giá trị”, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.

Nguồn tin: Theo BNA

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập128
  • Hôm nay12,877
  • Tháng hiện tại343,317
  • Tổng lượt truy cập22,634,865
Liên kết website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây