Theo giới phân tích, Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới bước vào một chu kỳ biến động sâu sắc, với cạnh tranh chiến lược gay gắt, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, rủi ro lạm phát và suy giảm tăng trưởng đan xen.
Trong khi đó, Việt Nam đã tích lũy được nền tảng quan trọng về quy mô kinh tế, hạ tầng, năng lực sản xuất và hội nhập tuy nhiên đang đứng trước một ngưỡng phát triển quyết định: Bứt phá để tiến vào nhóm quốc gia phát triển có thu nhập cao trong vài thập kỷ tới hoặc rơi vào bẫy tăng trưởng trung bình, năng suất cải thiện chậm và dần suy giảm năng lực cạnh tranh.
Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng đã nêu rõ: "Mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội".
Trong đó, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm. Tổng tích lũy tài sản khoảng 35 - 36% GDP; tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng khoảng 61 - 62% GDP. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm khoảng 40% GDP, trong đó tỉ lệ đầu tư công chiếm 20 - 22%. Tỉ lệ huy động nguồn ngân sách giai đoạn 2026 - 2030 đạt 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP.
Bởi vậy, từ trước thềm Đại hội, nhiều trí thức, chuyên gia trong và ngoài nước đã bày tỏ niềm tin và kỳ vọng vào những định hướng chiến lược cho kỷ nguyên phát triển mới của đất nước từ Đại hội.
Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hùng cường ngày nay không còn là mong muốn chung chung.
Mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được xác lập nhất quán, tạo nên sự đồng thuận ngày càng sâu rộng trong Đảng, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp.
Thực tiễn những năm gần đây cho thấy sức sống của khát vọng ấy. Nền kinh tế duy trì được đà tăng trưởng trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, vị thế quốc tế tiếp tục được nâng cao, niềm tin của nhà đầu tư và đối tác quốc tế ngày càng được củng cố. Quan trọng hơn, trong xã hội đã hình thành niềm tin rằng đất nước hoàn toàn có đủ điều kiện để bước vào một giai đoạn phát triển cao hơn, chất lượng hơn.
Theo chuyên gia, Đại hội XIV diễn ra khi khát vọng phát triển đã chín muồi. Điều Đại hội lần này mang lại không chỉ là sự khẳng định mục tiêu, mà là niềm tin rằng khát vọng ấy sẽ được hiện thực hóa bằng những bước đi vững chắc và hiệu quả hơn.
Năm 2025 khép lại đã chính thức đánh dấu một năm tăng trưởng rất khả quan của kinh tế Việt Nam, với mức tăng trưởng GDP đạt 8,02% - thuộc nhóm cao của khu vực và thế giới. Đây không chỉ là kết quả của riêng một năm, mà là sự kết tinh của cả giai đoạn 2021 - 2025, giai đoạn nền kinh tế phải liên tục ứng phó với những cú sốc chưa từng có tiền lệ, từ đại dịch COVID-19 đến những biến động địa chính trị và đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nhìn lại giai đoạn vừa qua, có thể thấy kinh tế thế giới và trong nước diễn biến hết sức phức tạp.
Đại dịch COVID-19 bùng phát đã gây ra những tác động nghiêm trọng, chưa từng có tiền lệ đối với kinh tế - xã hội toàn cầu. Bên cạnh đó, cạnh tranh chiến lược và xung đột địa chính trị giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, làm thay đổi sâu sắc trật tự kinh tế và thương mại quốc tế.
Những biến động mạnh của thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu, cùng với chính sách thuế đối ứng của Chính phủ Hoa Kỳ, đã tác động đáng kể đến kinh tế thế giới, đặc biệt là Việt Nam - một nền kinh tế có độ mở lớn.
Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng trưởng cao. Việt Nam tiếp tục giữ xếp hạng tín nhiệm quốc gia ở mức BB+ và Ba2 với triển vọng ổn định theo đánh giá của Fitch, S&P và Moody’s. Các tổ chức quốc tế đều đánh giá cao kết quả điều hành của Chính phủ, ghi nhậnt riển vọng tăng trưởng và khả năng nâng hạng tín nhiệm của Việt Nam trong thời gian tới.
Theo thống kê từ Bộ Tài chính, bình quân giai đoạn 2021 - 2025, Việt Nam tăng trưởng GDP 6,3%, cao hơn giai đoạn 5 năm trước. Nếu không tính năm 2021 chịu tác động nặng nề của dịch COVID-19, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2022 - 2025 đạt 7,13%, vượt mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm.
Thị trường tài chính, tiền tệ và ngoại hối cơ bản ổn định khi CPI bình quân giai đoạn 2021 - 2025 duy trì dưới 4%, nợ công giảm từ 44,3% GDP năm 2020 xuống khoảng 35 - 36% GDP vào năm 2025.
Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả nổi bật. Tổng thu ngân sách 5 năm đạt gần 9,88 triệu tỷ đồng, vượt 18,1% mục tiêu đề ra, gấp gần 1,4 lần so với giai đoạn trước, trong khi đã thực hiện miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí khoảng 1,1 triệu tỷ đồng.
Thị trường trong nước và quốc tế tiếp tục mở rộng với quy mô xuất nhập khẩu tăng nhanh từ 545 tỷ USD năm 2020 lên hơn 930 tỷ USD năm 2025, đưa Việt Nam vào nhóm 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2025 tăng hơn 9% so với năm 2024. Du lịch phục hồi mạnh mẽ với khoảng 21,1 triệu lượt khách quốc tế.
Các thị trường phát triển theo hướng hiện đại và hội nhập. Thị trường chứng khoán được tổ chức FTSE Russell nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp. Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động từ cuối năm 2025.
Năng lực nội tại của nền kinh tế được nâng cao. Kinh tế tư nhân phát triển tích cực với gần 297.500 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong năm 2025. Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động vượt mốc 1 triệu, tăng mạnh so với các năm trước.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm tăng 44% so với giai đoạn trước, tương đương khoảng 33,2% GDP. Thu hút FDI cả nhiệm kỳ đạt 184,2 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất.
Thị trường lao động ổn định, chất lượng lao động cải thiện khi tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm còn 24,7% năm 2025; tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ tăng lên 29,2%.
Nhìn lại chặng đường 2021 - 2025 với những kết quả phục hồi và tăng trưởng ấn tượng, có thể thấy rõ hơn cơ sở thực tiễn, niềm tin và khát vọng để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững và thịnh vượng. Những kết quả đạt được như một lời khẳng định mạnh mẽ với thế giới về bản lĩnh, năng lực chống chịu và thích ứng của nền kinh tế Việt Nam.
Để những định hướng chiến lược của Đại hội XIV của Đảng được hiện thực hóa bằng các bước đi cụ thể và hiệu quả, việc nhìn lại những bài học rút ra từ quá trình ứng phó với các cú sốc lớn đã tạo nên nền tảng thực tiễn vững chắc cho việc xác lập mục tiêu, lựa chọn động lực và hoàn thiện các quyết sách phát triển trong giai đoạn mới.

Đại hội XIV của Đảng không chỉ thể hiện sự kế thừa, mà còn phát triển, cập nhật nhiều quan điểm, mục tiêu mới và các giải pháp, nhiệm vụ mang tính đột phá, mạnh mẽ hơn, phản ánh sự đổi mới, sáng tạo, có tính cách mạng trong tư duy và hành động, tạo làn gió mới tươi mát và kỳ vọng có nhiều sự đột phá phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
TS. Nguyễn Minh Phong Nguyên Trưởng phòng Nghiên cứu kinh tế, Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội
Tôi kỳ vọng Đại hội Đảng XIV sẽ phát huy cao độ tinh thần sáng tạo và kiến tạo, đưa Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với trọng tâm là nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng tăng trưởng, hoàn thiện thể chế và trao quyền mạnh mẽ hơn cho địa phương. Cần ưu tiên đầu tư cho giáo dục - đào tạo, thúc đẩy khoa học công nghệ và thu hút nhân tài để xây dựng nền kinh tế tri thức ở trình độ cao, vì đây là nền tảng cốt lõi cho khát vọng vươn lên của đất nước.
GS. Nguyễn Đức Khương Giám đốc phát triển quốc tế, Tổ hợp đại học Leonard de Vinci (Pháp), Chủ tịch Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu

Nguồn tin: Theo VNBUSINESS:
Ý kiến bạn đọc