Nghịch lý nông nghiệp hữu cơ: Chi phí đè sức mua, HTX tìm lối thoát thị trường ngách

Thứ tư - 27/05/2026 23:01 0
Đằng sau mức giá cao gấp nhiều lần của những sản phẩm hữu cơ có chứng nhận quốc tế lại là một chuỗi nghịch lý đầy áp lực mà các doanh nghiệp, HTX tại Việt Nam đang gặp phải trong lĩnh vực này.

Báo cáo toàn cảnh thị trường cho thấy, quy mô ngành hữu cơ toàn cầu đang phục hồi mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) duy trì ổn định từ 9-12%. Dự kiến thị trường sẽ bứt tốc từ 168.2 tỷ USD năm 2025 lên tới 364.4 tỷ USD vào năm 2034. Tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, sự mở rộng của tầng lớp trung lưu mới đã đẩy giá trị thị trường lên mức xấp xỉ 25 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng dự kiến từ 12.1- 18.1%.

Thiếu vật tư đặc thù và hệ thống kho lạnh

Tuy nhiên, tại Việt Nam, một nghịch lý đang tồn tại đó là nhu cầu tiêu dùng phân khúc "Eat Clean" và "Green Living" tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP.HCM tăng vọt, nhưng chuỗi cung ứng lại liên tục rơi vào khủng hoảng.

Điểm nghẽn đầu tiên nằm ở chi phí sản xuất đầu vào bị đội lên quá cao ngay từ thượng nguồn. Khác với canh tác thông thường, nông nghiệp hữu cơ đòi hỏi các nguồn vật tư đặc thù như hạt giống không biến đổi gen (non-GMO) và các chế phẩm sinh học đạt chuẩn.

Thế nhưng, bà Nguyễn Thị Mai, Giám đốc HTX Nông, Lâm nghiệp hữu cơ Quảng Phú (Lâm Đồng), cho biết do thị trường vật tư này tại Việt Nam chưa hoàn thiện, ít tính cạnh tranh nên giá mua luôn ở mức cao. Cùng với đó là việc canh tác thâm dụng nhân công và năng lượng vận hành lớn khiến giá thành sản xuất bị đẩy lên một cách thụ động.

Điển hình như các loại hạt giống hữu cơ nhập khẩu thường có giá cao gấp 3 - 5 lần so với hạt giống thông thường. Chế phẩm sinh học nhập ngoại cũng tương tự, đẩy chi phí vật tư lên chiếm từ 40 - 50% tổng chi phí sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Trong khi ở nông nghiệp thông thường, tỷ lệ này khoảng 25 - 30%.

HTX rau hữu cơ tại HTX Cuối Quý (Hà Nội).
HTX rau hữu cơ tại HTX Cuối Quý (Hà Nội).

Một điểm đáng lưu ý là nông sản hữu cơ sau khi thu hoạch rất dễ bị hỏng. Do không sử dụng chất bảo quản hóa học, thời gian bảo quản tự nhiên của hàng tươi sống bị rút ngắn đáng kể. Lúc này, vai trò của khâu logistics chuỗi lạnh trở thành yếu tố sống còn.

Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra rằng logistics đang chiếm tới 20 - 25% giá trị nông sản, trong khi đó tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch và hao hụt trên kệ hàng do thiếu hụt kho lạnh nông thôn lên tới xấp xỉ 50%

Theo ngành logistics, hệ thống xe tải lạnh và container lạnh đang do các doanh nghiệp logistics lớn vận hành. Lượng xe này chỉ đáp ứng được khoảng  10-20% nhu cầu vận chuyển hàng hóa có yêu cầu kiểm soát nhiệt độ (bao gồm cả nông sản, thủy sản và dược phẩm) trên toàn quốc.

Do số lượng xe lạnh khan hiếm, các đơn vị logistics thường ưu tiên nhận các đơn hàng xuất khẩu quy mô lớn. Các HTX sản xuất rau củ quả hữu cơ với quy mô nhỏ, sản lượng thu hoạch theo ngày rất khó để tiếp cận hoặc thuê được xe lạnh riêng lẻ, hoặc nếu thuê được thì phải chịu mức giá cước cao hơn.

Việc thiếu hụt hệ thống kho lạnh và xe lạnh chuyên dụng tại các vùng nông thôn không chỉ gây lãng phí sản lượng mà còn làm mất ổn định nguồn cung kệ hàng tại các đô thị. Điều này cũng đẩy nguy cơ nhiễm chéo giữa hàng hữu cơ và hàng thông thường lên mức báo động.

Trong khi, ông Lê Quí Hòa Bình, Công ty TNHH Control Union Việt Nam, cho biết,  theo các tiêu chuẩn hữu cơ, nhất là tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế, việc thu mua, vận chuyển nông sản ngay từ đồng ruộng cũng phải tuân thủ nguyên tắc "Bảo toàn tính toàn vẹn hữu cơ" để ngăn ngừa tuyệt đối sự nhiễm chéo hóa chất và sự trà trộn của hàng đại chúng.

Áp lực giá bán

Tất cả các chi phí sản xuất, logistics… đã trực tiếp đẩy giá bán lẻ nông sản hữu cơ lên cao.  Nhưng đó là những mặt hàng nông sản hữu cơ quốc tế. Còn so với những mặt hàng hữu cơ thông thường ở Việt Nam, giá tiêu thụ đang có khoảng cách với chính những mặt hàng có hữu cơ có chứng nhận quốc tế.

Theo dữ liệu quét giá thực tế vào tháng 5/2026 tại các hệ thống phân phối lớn (Aone, Kingfoodmart, Finelife…), nông sản hữu cơ chứng nhận quốc tế có sự chênh lệch giá rất lớn so với nông sản đạt tiêu chuẩn VietGAP/GlobalGAP thông thường.

Nông sản hữu cơ có chứng nhận quốc tế có giá cao hơn chứng nhận VietGAP và hữu cơ thông thường.
Nông sản hữu cơ có chứng nhận quốc tế có giá cao hơn chứng nhận VietGAP và hữu cơ thông thường.

Trong đó, trái cây nhập khẩu có chứng nhận hữu cơ quốc tế cao hơn 30% so với trái cây có chứng nhận VietGAP/GlobalGAP thông thường. Nông sản hữu cơ khô có chứng nhận quốc tế cao hơn 60% so với nông sản khô có chứng nhận VietGAP/GlobalGAP thông thường. Đặc biệt, phân khúc rau tươi ngắn ngày có chứng nhận hữu cơ quốc tế có giá đắt gấp gần 3 lần  so với rau VietGAP/ GlobalGAP thông thường.

Theo chuyên gia nông nghiệp hữu cơ, sự chênh lệch giữa giá nông sản hữu cơ chứng nhận quốc tế với nông sản chứng nhận VietGAP/GlobalGAP thông thường cho thấy, các chứng nhận hữu cơ chính thức (như USDA Organic, EU Organic, hoặc các tiêu chuẩn quốc gia tương đương) xây dựng niềm tin vững chắc cho người tiêu dùng bằng cách thực thi các tiêu chí sản xuất và chế biến nghiêm ngặt.

Tuy nhiên, để đạt được các tiêu chuẩn chứng nhận này ở Việt Nam không phải đơn vị nào cũng làm được. Bởi theo bà Trần Như Ánh, Cán bộ văn phòng đại diện Hiệp hội hữu cơ Việt Nam tại TP HCM, trong nông nghiệp hữu cơ, quá trình chuyển đổi đất nghiêm ngặt mất nhiều năm, thủ tục hồ sơ và kiểm toán phức tạp là rào cản lớn đối với các nông hộ nhỏ, HTX. Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn hữu cơ toàn cầu hiện nay thiếu đồng nhất, dễ gây rủi ro gian lận nhãn mác.

Chính vì vậy mà dù tổng diện tích nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam đạt khoảng 200.000 ha, song phân khúc diện tích đạt chứng nhận hữu cơ quốc tế (USDA, EU...) vẫn chiếm tỷ trọng khiêm tốn, khoảng 20% - 25% tổng diện tích hữu cơ.

Chuyên gia Võ Thanh Lộc nhận định, nhu cầu sống xanh là bền bỉ và mở ra nhiều cơ hội cho nông sản hữu cơ. Nhưng nếu không giải quyết được bài toán gánh nặng chi phí và khủng hoảng niềm tin về tiêu chuẩn, nông nghiệp hữu cơ Việt Nam sẽ mãi bó hẹp trong một không gian ngách là các đô thị lớn với người có thu nhập cao.

Để gỡ bỏ các nút thắt này, các nông hộ nhỏ lẻ bắt buộc phải dịch chuyển sang mô hình chứng nhận nhóm qua HTX. Đây là giải pháp tối ưu giúp chia sẻ và giảm thiểu chi phí kiểm toán, chứng nhận độc lập. Đồng thời, các HTX cần chủ động ứng dụng các công nghệ chế phẩm sinh học bản địa nhằm đưa mức chi phí sản xuất hữu cơ xuống dưới mức 50% tổng chi phí đầu tư.

Về tiêu thụ, đến nay, mô hình HTX-doanh nghiệp liên kết tiêu thụ vẫn được đánh giá là hiệu quả nhất, bởi có thể vượt qua các mạng lưới trung gian kém hiệu quả. Việc bán hàng trực tiếp qua thương mại điện tử như Shopee và các chuỗi chuyên doanh hàng đầu như Aone, Saigon Coop, Go!... sẽ giảm bớt các chi phí ngầm phát sinh.

 Ngoài ra, “việc HTX liên kết với các nhà phân phối lớn phát triển dòng nhãn hàng riêng, với bao bì đơn giản, định lượng lớn cũng là một hướng đi thực tế để giảm từ 20- 30% giá bán lẻ trên kệ, đưa đồ sạch tới gần hơn với túi tiền của người tiêu dùng đại chúng”, chuyên gia Võ Thanh Lộc định hướng.

Nguồn tin: Theo VNBUSINESS:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập29
  • Hôm nay5,420
  • Tháng hiện tại424,304
  • Tổng lượt truy cập23,170,774
Liên kết website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây